Công nghệ cao TPHCM: Thiếu nhân lực, kinh nghiệm, vốn

Thứ sáu, 13/04/2007

 

Công ty Minh Trân là một trong những doanh nghiệp do Việt kiều đầu tư đầu tiên vào lĩnh vực công nghệ cao.Trong ảnh: Công nhân kiểm tra linh kiện điện tử

Ngày 21-12-2004, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM tổ chức hội thảo khoa học về công nghệ cao. Tham dự hội thảo có trên 30 Việt kiều đang làm việc trong lĩnh vực này. Gần 20 tham luận tại hội thảo đều nhìn nhận VN có thể thông qua lực lượng Việt kiều để phát triển công nghệ cao.

Ông Lê Đình Tiến, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, Nhà nước đã có nhiều chính sách để thúc đẩy phát triển công nghệ cao và đang rất cần sự tham gia của bà con Việt kiều. Chưa tròn một tuổi nhưng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (TT&D) – Khu Công nghệ cao TPHCM đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực công nghệ cao.

Những tiếp cận ban đầu với công nghệ cao

Với sự ra đời của than nano “lỏng” đã mở ra công nghệ nguồn cho VN. Đây cũng là lần đầu tiên công nghệ nano được triển khai ở nước ta. Mực in phun cho máy vi tính do VN sản xuất bằng công nghệ nano có giá rẻ hơn sản phẩm của Trung Quốc từ 30% đến 50%, thấp hơn sản phẩm chính hãng nhập ngoại từ 7 đến 10 lần.

Bên cạnh đó, sở hữu trí tuệ về công nghệ cao của VN cũng bắt đầu đăng ký ở nước ngoài. TT R&D đã tiến hành đăng ký hạt nano hấp thu tia tử ngoại; ngòi in dùng chuỗi ống than nano; than nano lỏng. Ông Nguyễn Chánh Khê, Giám đốc TT R&D, cho biết các công trình này đã được đăng ký bảo hộ tại Mỹ và sắp tới là châu Âu. Hai phát minh có khả năng ứng dụng cao sắp được đăng ký là polymer dẫn điện mới và pin nhiên liệu khởi động bằng ánh sáng. Hai sản phẩm này khi đưa vào ứng dụng sẽ mang lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường.

Hỗ trợ các ê kíp nghiên cứu khoa học

Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Đình Tiến, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đã khẳng định nếu lấy mức bình quân GDP/đầu người thì VN phải mất 20 năm nữa mới bằng của Thái Lan hiện nay và phải mất 25 năm mới xấp xỉ Malaysia. Vì vậy, VN phải tìm cho được con đường nhanh nhất để rút ngắn khoảng cách bằng việc ứng dụng và phát triển công nghệ cao trong các lĩnh vực. Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách thúc đẩy phát triển lĩnh vực này nhưng cái khó của chúng ta là thiếu nhân lực, kinh nghiệm, vốn. Trong khi đó, lực lượng Việt kiều của ta rất có thế mạnh, cần khai thác.

Ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP, cho biết hiện nay chúng ta có trên 300.000 Việt kiều là các chuyên gia công nghệ cao. Chỉ khai thác khoảng 500 chuyên gia trong số này, kinh tế TP sẽ tăng tốc. Sắp tới TP sẽ cố gắng thu hút lực lượng này. Trước mắt TP sẽ khuyến khích hình thành các ê kíp nghiên cứu khoa học, TP sẽ hỗ trợ kinh phí hoạt động.

Chậm vì trì trệ thủ tục...

TS Nguyễn Chánh Khê bộc bạch, hiện nay chúng ta chưa thu hút được nhiều chuyên gia hàng đầu về nước làm việc. Nhờ có chính sách hấp dẫn, Trung Quốc đã có hơn 200 chuyên gia ở thung lũng Silicon (Mỹ) trở về làm việc. Lực lượng này đã góp phần không nhỏ vào sự tăng tốc của Trung Quốc. Hiện nay, nhập thiết bị công nghệ cao mới giá rất cao. Nhưng quy định hiện lại không cho nhập thiết bị đã qua sử dụng, mặc dù thiết bị công nghệ cao đã qua sử dụngvẫn còn rất hiệu quả.

GS Chu Hảo (Khu Công nghệ cao Hòa Lạc – Hà Nội) kể lại, hai khu công nghệ cao TPHCM và Hòa Lạc đã hình thành ý tưởng từ 1992 nhưng vẫn ì ạch. Vì chúng ta phải xây dựng công nghệ cao bằng “công nghệ” thấp. Chỉ riêng khâu thủ tục pháp lý cho khu công nghệ cao phải mất hơn 2 năm. Chủ trương khuyến khích đầu tư vào khu công nghệ cao phải mất hơn một năm. Giải tỏa đền bù cũng phải tính bằng năm.

Một số Việt kiều cho biết, hiện nay rất ít Việt kiều là các chuyên gia công nghệ cao có ý định về nước làm việc vì họ cho rằng môi trường làm việc chưa tốt. Nhà nước cần có những chính sách để làm thay đổi định kiến này. Việt kiều về nước làm ăn, khi đem sản phẩm công nghệ cao ra bán ở nước ngoài bán cũng rất khó khi đối tác biết sản phẩm này được làm ra ở VN.

Ông Trần Duy Tân, Chủ tịch HĐQT SDS An IC Công ty Thiết kế và Dịch vụ (Mỹ): VN có thể “chen” vào công nghệ bán dẫn

TP đã có những chuyển động tích cực để phát triển công nghệ cao. Nhưng phát triển như thế nào là vấn đề hết sức quan trọng. Về bản chất sản xuất ra chip gần như giống nhau. Nhưng ứng dụng thì rất khác nhau. Vì vậy kiến thức sản xuất sản phẩm này rất dàn trải. Có những công đoạn nhỏ nhưng phải cần cả trăm tiến sĩ nghiên cứu.

Trên thế giới, không doanh nghiệp nào dám nghĩ mình sẽ sản xuất hoàn chỉnh bán dẫn. Ngay cả doanh nghiệp lớn cũng dám sản xuất vài ba con chip. Vì vậy, quy trình sản xuất chip hiện nay được chia nhỏ rất nhiều. VN có thể khai thác thực tế này để “chen” vào công nghệ bán dẫn. Nhưng VN đi vào bán dẫn chỉ nên tập trung ở khâu thiết kế. Vì đi vào sản xuất đầu tư nhà máy cả tỉ USD thì khó khả thi. Vả lại, thiết kế bán dẫn là lãnh vực mà người VN ở nước ngoài rất mạnh. Thiết kế vốn đầu tư thấp. Với vài chục kỹ sư, làm việc trong vài tháng cũng có thể tạo ra lợi nhuận vài trăm ngàn USD.

Khi nào VN có thể tham gia sản xuất bán dẫn? Tôi khẳng định: Ngay bây giờ. Hiện nay, công ty của tôi có rất nhiều dự án từ nhỏ đến lớn mà các doanh nghiệp trong nước hoặc các trường đại học có thể liên kết thực hiện.

Ông Nguyễn Hữu Lệ, Chủ tịch HĐQT TMA (Canada): Cần được đối xử bình đẳng

Theo tôi, nguồn tài nguyên rất lớn của VN là con người. Khả năng làm phần mềm của VN đã được khẳng định trên thế giới. Cái thiếu lớn nhất là tìm ra đối tác làm ăn có hiệu quả ở VN. Công ty TMA ở VN mấy năm qua làm ăn rất hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng luôn đạt trên 70%. Tuy vậy đến thời điểm này, TMA VN phải giảm tốc độ tăng trưởng, do không tìm được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là tiếng Anh.

Trong khi chưa tạo thêm ưu đãi thu hút Việt kiều về làm việc, chúng tôi thấy cần được đối xử bình đẳng. Cùng một đường truyền có dung lượng như nhau nhưng công ty chúng tôi phải trả hơn 20.000 USD mỗi tháng. Trong khi đó, một doanh nghiệp khác chỉ trả hơn 7.000 USD.

5 tiêu chí phát triển của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D)

1. Công nghệ hứa hẹn thị trường có độ lớn đáng kể trên thế giới (>100 tỉ USD).

2. Có tính khả thi cao về mặt công nghệ (kinh nghiệm, sở hữu trí tuệ quốc tế, hứa hẹn nhiều ứng dụng mới, có hỗ trợ từ bên ngoài, có xác suất thành công trong nghiên cứu khả thi, có nguồn nhân lực khả thi...).

3. Có tính khả thi về mặt kinh tế (vốn đầu tư vừa phải, có hứa hẹn đầu ra, có khả năng siêu lợi nhuận).

4. Có tính cống hiến cho sự nghiệp chung của đất nước; có nhu cầu tiêu thụ trong nước.

5. Quy trình chế tạo, sản xuất và sử dụng không gây ô nhiễm môi trường.

Theo NLĐ

 
Tìm là thấy

Tiêu Điểm