Thứ tư, 03/09/2008
![]() |
|
Hình ảnh vệ tinh tình báo KH-7 về điểm thử nghiệm hạt nhân Mururoa ở quần đảo Polynesia thuộc Pháp, ngày 26/5/1967. |
Tuy nhiên, Mỹ cũng muốn ngăn cản Pháp tiếp cận với chuyên ngành hạt nhân và trang thiết bị thuộc lĩnh vực này. Tình báo Mỹ rất muốn kiểm soát nhân lực và máy móc liên quan đến chương trình hạt nhân của Đức, đồng thời giấu kín mọi thông tin nhạy cảm không để rơi vào tay người Pháp.
Tháng 4/1945, Anh tiến hành chiến dịch HARBORAGE – bắt cóc những nhà khoa học chủ chốt của Đức Quốc xã (trong đó bao gồm Werner Heisenberg) và chiếm giữ một lò phản ứng thử nghiệm trong một vùng của nước Đức (nhưng chẳng bao lâu sau lò phản ứng này nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp).
Mọi nỗ lực của Mỹ nhằm giám sát các hoạt động hạt nhân của Pháp được tiết lộ trong một số báo cáo giải mật của CIA. 6 báo cáo – dựa theo nhiều nguồn – cung cấp cái nhìn tổng quan về năng lực nghiên cứu và phát triển hạt nhân của Pháp, tiếp đến là tin đồn rằng các nhà khoa học Pháp muốn bán bí quyết về hạt nhân cho người trả giá cao nhất, tóm tắt những điểm chính trong bài phát biểu của Joliot-Curie, nhà khoa học hạt nhân hàng đầu của Pháp.
Vào đầu thập niên 50 thế kỷ trước, các cơ quan khác của cộng đồng tình báo Mỹ – bao gồm cơ quan tình báo của Bộ Ngoại giao và tình báo quân đội – đã có thông tin về những nhà khoa học liên quan đến chương trình hạt nhân của Pháp. Lúc đó, vào giữa thập niên 50, Pháp không có quyết định phát triển vũ khí hạt nhân.
Nhưng sau năm 1957, tất cả đã thay đổi cùng với sự thất bại của chính phủ Guy Mollet (hứa hẹn sẽ không cố gắng phát triển vũ khí hạt nhân). Theo CIA, vào tháng 5/1957 Pháp bắt đầu muốn chế tạo vũ khí hạt nhân.
Đó là lúc Pháp thành lập một tổ chức để phát triển vũ khí hạt nhân và bắt đầu tìm kiếm nơi thử nghiệm. Vào cuối thập niên 50, tình báo Mỹ đã có báo cáo về việc Pháp đang xúc tiến kế hoạch cho nổ một quả bom nguyên tử.
Báo cáo cũng trình bày những thông tin về nhân sự, lò phản ứng, cơ sở làm giàu uranium, điểm thử nghiệm ở Sahara và mọi sự di chuyển của người cũng như trang thiết bị. Sau cuộc thử nghiệm đầu tiên của Pháp vào tháng 2/1960, cộng đồng tình báo Mỹ tiến hành điều tra về thời điểm quyết định cho những cuộc thử nghiệm trong tương lai của nước này.
Khi Pháp tìm kiếm địa điểm mới (do sức ép của Algeria) để thử nghiệm vũ khí hạt nhân, Mỹ thấy cần thiết phải theo dõi chặt chẽ những cuộc thử nghiệm mới ở Thái Bình Dương.
Lúc đó CIA và Cơ quan Do thám quốc gia (NRO, được thành lập vào tháng 9/1961) sử dụng máy bay U-2 và vệ tinh để giám sát và chụp ảnh những lò phản ứng, cơ sở làm giàu uranium và điểm thử nghiệm của Pháp.
Ngoài ra, Mỹ cũng thu thập mọi dữ liệu từ vụ nổ hạt nhân của Pháp như: các tín hiệu địa chấn, xung điện từ, tia X, bức xạ hồng ngoại và những mảnh vỡ sinh ra từ vụ nổ trong quyển khí.
Các trạm trên mặt đất của Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật Không quân (AFTAC), hệ thống vệ tinh của AFTAC/Không quân (bao gồm VELA và các vệ tinh thuộc Chương trình Hỗ trợ quốc phòng), máy bay U-2 thu thập mảnh vỡ do Bộ Chỉ huy Không quân chiến lược điều hành và những con tàu của Hải quân Mỹ cũng tham gia vào nỗ lực thu thập thông tin của cộng đồng tình báo Mỹ.
Vào đầu thập niên 60, AFTAC có ý định lập một số trạm trên mặt đất gần Algeria hơn để dễ dàng theo dõi hoạt động hạt nhân của Pháp. Nhờ dữ liệu thu thập được mà CIA và các chuyên gia phân tích tình báo thực hiện được những báo cáo cũng như nghiên cứu và đánh giá sâu sắc về chương trình hạt nhân của Pháp bắt đầu từ cuối thập niên 50, như là: Chương trình vũ khí hạt nhân của Pháp (tháng 7/1963), Trung tâm Thử nghiệm hạt nhân trên Thái Bình Dương của Pháp (tháng 8/1965)...
Châu Á |
Châu MỹThế giới đó đâyQuốc tế |